BÁC HỒ KÍNH YÊU

HẠNH PHÚC

">

MỜI BẠN TRÀ-CAFE

Bộ sưu tập loài chim

Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Tài nguyên dạy học

DỰ BÁO THỜI TIẾT

Thủ đô Hà Nội
Ha Noi

Cố đô Huế
Co Do Hue

Tp Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh

Tp Ðà Nẵng
Da Nang

Hỗ trợ trực tuyến

  • (dinhmongpl)

BÁO MỚI

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • THỜI GIAN

    :

    Ảnh ngẫu nhiên

    Image.jpg IMG_20171220_3.png IMG_20171220_3.png IMG_20171207_1.png IMG_20171201_4.png IMG_20171123_2.png Image1515124838011.png IMG_20180105_3.png IMG_20180106_2.png Image1515131106422.png IMG_20180128_2.png Anhdonggiftraitimvalentin13.gif Anhdonggiftraitimvalentin11.gif 1510taihinhanhdongmungsinhnhattinhyeudep17.gif IMG_20160209_3.png IMG_20160209_2.png IMG_20160128_6.png IMG_20160128_5.png IMG_20150918_083729_612.jpg IMG0348A1.jpg

    DU LỊCH DANH LAM THẮNG CẢNH

    TRUYỆN CƯỜI

    BỘ SƯU TẬP HOA LAN

    NHẠC CỦA TUI

     

    TRA TỰ ĐIỂN


    Tra theo từ điển:



    Ngày tốt-ngầy xấu

    Sắp xếp dữ liệu

    *****

    BỘ SƯU TẬP H HỒNG

    Nối vòng tay lớn

    Thi giải toán qua mạng do Bộ GD tổ chức

    LỊCH XUÂN SANG

    Bé Vui

    HOA 10 GIỜ

    Núi Đôi - Vũ Cao

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: ĐH
    Người gửi: Đỗ Thị Hoa (trang riêng)
    Ngày gửi: 13h:00' 09-06-2011
    Dung lượng: 2.1 MB
    Số lượt tải: 11
    Mô tả:

    Chuyện ít biết về bài thơ "Núi Đôi" và tác giả Vũ Cao
    Nhà thơ Vũ Cao (1922 - 2007)
    Được sáng tác từ năm 1956, đã hơn nửa thế kỷ từ khi bài thơ Núi Đôi ra đời, nhưng bài thơ đã và vẫn đang làm rung động tâm hồn không biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam. Ít ai biết rằng, bài thơ đã được nhà thơ Vũ Cao sáng tác từ một câu chuyện tình có thật, bối cảnh có thật. Theo lời tác giả kể lại, trong bài thơ duy nhất chỉ có câu "Bảy năm về trước em mười bảy/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng" là chi tiết hư cấu. Nhà thơ Vũ Cao từng tìm đến tận núi Đôi để viếng mộ cô gái, và 20 năm sau ngày viết bài thơ đã gặp nhân vật anh bộ đội trong bài thơ ấy…
     

     

    Vì sao người 17 tuổi đã là người trẻ nhất làng?

    "Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa/ Bữa thì em tới bữa anh sang. Lối ta đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi/ Em vẫn đùa anh sao khéo thế/ Núi chồng, núi vợ đứng song đôi". Nhiều người nhận xét, những vần thơ chân thật mà đẹp như mơ của nhà thơ quê đất thành Nam ấy đã từng làm nao lòng bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

    Một thời, những người yêu bài thơ Núi Đôi thường băn khoăn tự hỏi: hai câu đầu tiên trong bài thơ khiến người ta nghĩ mãi mà không biết đó là vùng quê nào mà không có một bóng trẻ con, chỉ mới 17 tuổi mà đã là người trẻ nhất làng? Nếu sự thực như vậy thì vì sao làng này lại không có trẻ em? Không tìm được câu trả lời, có người nói, thơ ca chỉ là chuyện hư cấu, không có thực nên chẳng có ngôi làng nào như thế.

    Nhưng chính nhà thơ Vũ Cao từng nói, nếu không có chất liệu cuộc sống hàng ngày thì ông không viết được. Ông từng kể với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rằng bài thơ Núi Đôi được ông viết vào một ngày cuối năm 1956. Hồi đó ông về công tác ở sư đoàn 312, đóng quân ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội), cạnh đó có ngọn núi Đôi. Một hôm, theo mấy người dân đi chợ, ông nghe họ kể chuyện tình của một cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội. Khi anh bộ đội trở về thì cô gái đã hy sinh.

    Nghe vậy, Vũ Cao liền tìm đến thăm mộ người nữ liệt sỹ đó ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (còn gọi là Xuân Dục - Đoài Đông), thuộc xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đến tận nơi và nghe người dân kể lại câu chuyện tình giữa anh bộ đội và cô du kích, cảm hứng xuất hiện khiến ông đã chấp bút viết ra bài thơ Núi Đôi ra đời đúng như câu chuyện có thật. Cả tên làng, tên chợ, tên người và quang cảnh đều hoàn toàn có thật. Mộ cô gái hiện nay vẫn còn. Chỉ có anh bộ đội là người yêu của cô du kích thì lúc ấy Vũ Cao không gặp được, không rõ còn sống hay đã mất.

    Về lý do tại sao ngay trong hai câu thơ đầu, ông lại cho rằng đôi nam nữ, trong đó cô gái 17 tuổi và chàng trai đôi mươi là "trẻ nhất làng"?. Vũ Cao sau này nói với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rằng, ngay chính ông cũng không hiểu vì sao ông lại viết như vậy. Ông kể: "Qủa thật hồi đó trong làng còn có cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cùng trang lứa với họ. Có lẽ tôi đã quá cảm động trước chuyện tình đẹp như mơ và cũng đầy tình tiết bi kịch của đôi lứa ấy mà "thậm xưng" lên như vậy. Tuy nhiên, nói trẻ nhất làng thì cũng có khía cạnh không ngoa, vì ở lứa tuổi 17 - đôi mươi ấy, đó là lứa tuổi nhiều sức sống nhất, yêu tha thiết nhất và vì thế, người ta tiếc cho cuộc tình không thành vì giặc Pháp xâm chiếm quê hương, giết cô du kích".

    Sự đồng cảm lạ kỳ giữa nhà thơ - hình mẫu

    Liệt sỹ Trần Thị Bắc

    Hai ngọn núi Đôi bây giờ vẫn còn, người dân ở khu vực xã Phù Linh đều biết câu chuyện trong bài thơ cùng tên ngọn núi, hỏi ai cũng đều có thể nhận được câu trả lời: "Cô ấy chính là người làng này".

    Nhân vật nữ trong bài thơ chính là liệt sỹ Trần Thị Bắc, con gái đầu trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Lớn lên trong thời kỳ giặc Pháp xâm lược, năm 15 tuổi Bắc đã tham gia các hoạt động đoàn thể. 17 tuổi cô vào đội du kích với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, tiếp tế cho đội du kích rồi được giao cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương và binh vận.

    Ngày 21.3.1954, dẫn một đoàn cán bộ đi công tác, khi trở về núi Đôi thì Bắc gặp ổ phục kích của địch. Cô giao liên dù bị địch bịt miệng nhưng vẫn kịp thời la lớn để cảnh báo những người trong đoàn cùng đi phía sau, giúp các cán bộ chạy thoát. Tức tối, địch tra hỏi nhưng không khai thác được thông tin gì từ cô du kích gan dạ này. Giặc Pháp xử bắn Bắc ngay tại chỗ. Khi đồng đội tìm đến nơi thì Bắc đã tắt thở. Đồng đội đắp mộ cho cô ở khu vực cầu Cốn, Vệ Sơn, xã Tân Minh.

    Người ta cũng xác định được nhân vật "Anh đi bộ đội sao trên mũ" ấy cũng là một người có thật: ông Trịnh Khanh, người cùng xã Phù Linh. Theo lời ông Khanh kể lại, ông và chị Bắc quen nhau trong thời gian Bắc đang học y tá, và đơn vị của ông đóng quân gần đó. Là đồng hương nên có nhiều điều quý mến nhau, giữa đôi trai gái này đã hẹn ước với nhau trước khi chị Bắc học xong khoá y tá rồi quay về Phù Linh.

    Đầu năm 1953, ông Khanh và chị Bắc gặp lại nhau và hai người quyết định tổ chức đám cưới ngay tại đơn vị của chú rể. Đám cưới tổ chức đơn sơ, đại diện họ nhà trai là đồng đội cùng đơn vị, đại diện họ nhà gái là mẹ của Bắc. Vợ chồng sống với nhau được hai ngày thì chia tay, ông Khanh theo đơn vị chuyển quân đến địa điểm mới, chị Bắc trở về quê nhà Phù Linh. "Tôi không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn", ông Khanh nhớ lại.

    Ba tháng sau ngày cưới, ông Khanh nhận được tin vợ mình đã hi sinh. Đau đớn nhưng không biết làm sao, ông tiếp tục theo đơn vị bước vào những trận đánh mới.

    Khi Hiệp định Genève được ký kết, một buổi chiều cuối năm 1954, người ta nhìn thấy một anh bộ đội vai đeo ba lô bước về, nhưng không vào làng ngay mà ngồi thẫn thờ bên ngôi mộ chị Bắc ven gò Cầu Cốn. Ông Khanh nghẹn ngào như câu thơ Vũ Cao đã viết "Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng cây, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em". "Không hiểu vì sao nhà thơ Vũ Cao lại có thể đồng cảm, hiểu tâm trạng của người trong cuộc đến như thế", ông Khanh nói.

    Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ông Khanh đã tới tìm gặp nhà thơ Vũ Cao, nhà thơ lúc đó mới bàng hoàng: "Thế Bắc có chồng rồi à?"

    Bài thơ Núi Đôi “sém” thành… truyện ngắn

    Theo nhà thơ Vũ Cao, khi mới bắt gặp câu chuyện, ông đã dự định sẽ viết một truyện ngắn về đề tài này chứ không phải là một bài thơ. "Không hiểu vì sao, sau khi đi thực tế, tứ thơ dâng lên và bài thơ ra đời", nhà thơ Vũ Cao kể lại.

    Hàng chục năm sau khi bài thơ ra đời, nhiều bạn đọc còn nhầm tưởng bối cảnh và tình huống trong bài thơ là của chính tác giả. Trong một lần nói chuyện với sinh viên Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội, thậm chí còn có một cô sinh viên nước mắt lưng tròng thầm thì với nhà thơ "Cháu thương bác quá".

    Nhà thơ Thanh Thảo từng nói, Vũ Cao là nhà thơ hiền hiếm có. Rằng Vũ Cao nổi tiếng sau kháng chiến chống Pháp với bài thơ Núi Đôi bất tử, Vũ Cao lẽ ra có thể nhân thành công đó để đưa thơ mình lên. Nhưng ông lại cứ như người bộ hành chậm rãi, nhường đường cho người khác, cho các nhà thơ khác. Vũ Cao từng nói, ông làm thơ mục đích cũng chỉ là để phục vụ bộ đội mà thôi.

    ( ST ) 

     


    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Bảy năm về trước em mười bảy

    Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

    Bài thơ là nỗi xúc động chân thực của tác giả về một câu chuyện có thật ở vùng Xuân Dục trong kháng chiến chống Pháp. Giọng thơ tự sự đậm đà phong vị dân gian làm đẹp thêm mối tình kháng chiến, đồng thời tạo xúc động trước sự hy sinh của người con gái anh dũng. 

    Avatar
    Chuyện ít biết về bài thơ "Núi Đôi" và tác giả Vũ Cao Đúng vậy ! Cám ơn ĐH nhiều nhé !
     
    Gửi ý kiến

    XEM NGÀY TỐT-XẤU

    HỌC NỮA HỌC MÃI

    CHƠI CỜ TƯỚNG

    VỀ ĐẦU TRANG

    Click vào đôi chim để về đầu trang



    JellyMuffin.com - The place for profile layouts, flash generators, glitter graphics, backgrounds and codes
    Thank You Comments